Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012

Biếng ăn ở trẻ - nguyên nhân và cách khắc phục


1. Biếng ăn do tâm lý: Đây là nguyên nhân thường gặp nhất. Trẻ biếng ăn khi có cảm giác bị ép buộc, bỏ rơi, bị gò bó hoặc bị đánh lừa. Các tình huống thường gặp trong thực tế:
- Bị ép bú bình trong khi chỉ thích bú mẹ.
- Mẹ đi làm để trẻ cho người khác chăm sóc.
- Bị ép phải mang khăn ăn, phải ngồi một chỗ từ đầu đến cuối bữa ăn.
- Bị quy định phải ăn hết khẩu phần của mình trong một thời gian cố định.
- Không khí bữa ăn căng thẳng.
- Cha mẹ cho thuốc vào thức ăn, vào sữa.

2. Biếng ăn do sai lầm trong chế biến thức ăn và thời gian chuyển tiếp chế độ ăn.
- Những sai lầm trong chế biến thức ăn cho trẻ:
+ Hầm khoai tây, cà rốt, củ dền, đậu, thịt... xay nhuyễn và cho trẻ ăn hết ngày này qua ngày nọ, gây cảm giác ngán.
+ Chỉ cho trẻ ăn nước rau, nước thịt, không cho ăn xác, lâu ngày dẫn đến tình trạng thiếu các chất dinh dưỡng.
+ Cho trẻ ăn thức ăn xay nhuyễn đến lúc 2, 3 tuổi.
+ Pha bột vào sữa, pha sữa quá đặc, pha sữa bằng nước cháo hoặc nước hầm đậu, hầm xương... làm trẻ khó tiêu hóa.
+ Pha bột quá đặc khi trẻ mới tập ăn dặm.
- Thời gian chuyển tiếp chế độ ăn không phù hợp:
+ Ăn dặm quá sớm (trước khi trẻ tròn 4 tháng).
+ Ăn cơm quá sớm (trong khi răng trẻ chưa đủ để nhai cơm).


3. Biếng ăn do bệnh lý:
- Suy dinh dưỡng.
- Nhiễm ký sinh trùng; nhiễm trùng (viêm mũi, viêm họng, viêm amiđan...) và virus.
- Bệnh lý răng miệng (sâu răng, viêm lợi), loạn khuẩn đường ruột.
4. Biếng ăn sinh lý:
Trẻ vẫn khỏe mạnh nhưng tự nhiên ăn ít đi trong vài ngày đến vài tuần. Các thời điểm này thường trùng với lúc bé biết lẫy, ngồi, đứng, đi... Sau đó, trẻ trở lại ăn uống bình thường.
5. Biếng ăn do thuốc:
Do dùng quá nhiều vitamin, kháng sinh hoặc “thuốc kích thích ăn’’. Việc lạm dụng kháng sinh có thể gây rối loạn hệ vi khuẩn đường ruột, còn thuốc kích thích ăn sẽ làm cho trẻ biếng ăn thêm ngay sau khi ngừng thuốc (thuốc này chống chỉ định ở trẻ dưới 2 tuổi).
6. Biếng ăn “của cha mẹ”:
Do cha mẹ quá lo lắng về sự tăng trưởng của con. Khi thấy con ăn ít hơn các trẻ cùng lứa tuổi, nhiều người nghĩ rằng con biếng ăn mặc dù trẻ vẫn tăng cân và tăng chiều cao tốt.
7. Biếng ăn bẩm sinh:
Có khoảng dưới 5% trẻ sinh ra chỉ ngủ, chơi mà không bao giờ đòi bú.
Ngoài ra, trẻ còn có thể bị biếng ăn như sau khi tiêm phòng hoặc sau chấn thương.

Các biện pháp khắc phục:

1. Biếng ăn tâm lý:
Cha mẹ cần hết sức bình tĩnh và kiên nhẫn tìm hiểu vì sao trẻ không chịu ăn. Cần tránh các hành vi ép buộc như đè bé ra đổ thức ăn, bóp mũi cho bé nuốt, đánh cho bé khóc để bé nuốt... Khi trẻ ốm, nếu trẻ khó uống thuốc, cha mẹ hãy trình bày với bác sĩ để bác sĩ cho thuốc dễ uống, không cần phải cho thuốc vào thức ăn để đánh lừa trẻ. Hãy cho trẻ ăn một cách thoải mái, bột, sữa có thể dây vào áo một chút cũng không sao.
2. Biếng ăn do sai lầm trong kỹ thuật chế biến thức ăn và thời gian chuyển tiếp chế độ ăn:
Tránh kéo dài thời gian cho trẻ ăn thức ăn xay nhuyễn. Không cho bé ăn thức ăn đơn điệu, nên đổi món thường xuyên cho bé.

3. Biếng ăn do bệnh lý:
 Bổ sung các vi chất dinh dưỡng mà trẻ thiếu; xổ giun cho trẻ 6 tháng một lần; giữ gìn vệ sinh răng miệng; điều trị bệnh nhiễm trùng.

4. Biếng ăn sinh lý:
 Trong giai đoạn biếng ăn sinh lý, các bậc cha mẹ không nên nóng lòng tự ý sử dụng các loại thuốc bổ hoặc thúc ép trẻ ăn. Hãy kiên nhẫn cho trẻ ăn từng bữa nhỏ, thay đổi các món ăn lạ... để chờ trẻ ăn trở lại.
5. Biếng ăn do thuốc:
Sử dụng các men vi sinh hoặc sữa chua để cấy lại vi khuẩn đường ruột cho trẻ; tránh sử dụng thuốc bổ khi không có đơn của bác sĩ; tránh sử dụng thuốc kích thích ăn. 

Một giải pháp mà các bà mẹ có thể tham khảo để giúp con mình có hệ tiêu hóa hoàn thiện th ông qua việc bổ sung vi khuẩn có  ích cho đường  ruột của bé chính  là  sản  phẩm  Maxbiotic
6. Biếng ăn bẩm sinh:
Đối với các trẻ không đòi ăn bao giờ, cha mẹ phải chủ động cho trẻ ăn theo sự hướng dẫn và theo dõi của bác sĩ dinh dưỡng.


Mọi thông thi về chăm sóc bé biếng ăn các mẹ có thể tham khảo ở web www.biengan.orgwww.bekhoebengoan.com.vn để biết thêm thông tin hoặc gọi về số 0904 855 135 , 043 661 7869 để gặp trực tiếp chuyên gia tư vấn.






Nấm lưỡi khiến trẻ biếng ăn

Nấm lưỡi khiến trẻ biếng ăn


Bác sĩ Nguyễn Thị Oanh Tuyết thuộc khoa Tổng hợp 1 Bệnh viện Nhi Đồng 2 cho biết, nấm lưỡi được dân gian gọi là đẹn trăng hay tưa lưỡi. Bệnh hay gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, nhưng cũng có thể xuất hiện ở trẻ lên 10, thậm chí 15. Biểu hiện bệnh là những chấm trắng hình tròn, tạo thành một sợi dây tưa trên lưỡi, khiến trẻ không bú sữa, không ăn uống được vì đau đớn. Trường hợp nặng có viêm đỏ; nếu sốt ruột "cạy" những chấm trắng này ra thì sẽ gây chảy máu, dẫn đến nhiễm trùng. Nếu để lâu, nấm sẽ ăn loang khắp lưỡi, làm mất vị giác, khiến trẻ biếng ăn. Có những trường hợp nặng, nấm lan xuống đường ruột, gây tiêu chảy kéo dài, rất nguy hiểm.
Bệnh do nhiều loại nấm gây ra, nhưng chủ yếu vẫn là Candidas albican. Đây là loại nấm cơ hội, luôn hiện diện trong cơ thể mỗi người và "bùng lên" khi vệ sinh không tốt hoặc sức đề kháng kém. Bệnh xuất hiện nếu trẻ nhỏ không uống nước tráng miệng sau khi bú hoặc ăn bột xong. Ở trẻ lớn, nguyên nhân gây nấm lưỡi là không đánh răng sau khi ăn, hay ăn ngọt, ăn đêm.
Nấm lưỡi thường xuất hiện khi sức đề kháng kém, khi cơ thể mắc một loại bệnh khác. Trong trường hợp này, phải chữa trị các loại bệnh chính trước (như ho, tiêu chảy, viêm họng...), đồng thời trị nấm lưỡi bằng cách rơ lưỡi với thuốc Daktarin. Do bệnh dễ tái phát nên phải phối hợp nhịp nhàng các biện pháp khác như: vệ sinh răng miệng, tăng cường sức khỏe cho trẻ.


Để phòng ngừa nấm lưỡi, trẻ nhỏ sau khi ăn cần được uống hoặc súc miệng bằng nước lọc. Trẻ lớn hơn thì dùng kem đánh răng dành riêng cho bé. Nên hạn chế việc bú đêm với trẻ nhỏ và ăn đêm với trẻ lớn vì trẻ ăn xong thường đi ngủ luôn, quên súc miệng.
Bác sĩ Oanh Tuyết cũng khuyên rằng, nếu dùng mật ong để rơ lưỡi cho trẻ (mật ong sát trùng rất tốt) nhưng khi làm xong phải cho trẻ uống nước lọc tráng miệng để khỏi lưu lại chất đường trong miệng. Với trẻ lớn, có thể dùng nước muối để súc miệng thay kem đánh răng nếu không có loại kem dành riêng cho trẻ em

Mọi thông thi về chăm sóc bé biếng ăn các mẹ có thể tham khảo ở www.biengan.org và www.bekhoebengoan.com.vn để biết thêm thông tin hoặc gọi về số 0904 855 135 , 043 661 7869 để gặp trực tiếp chuyên gia tư vấn.
 

Cứ 2 trẻ thì một bị biếng ăn

Cứ 2 trẻ thì một bị biếng ăn


Ở lứa tuổi 1-2, cứ 2 em bé thì có một mắc chứng biếng ăn ở các mức độ. Việc cho ăn không đúng cách hoặc dùng thuốc tùy tiện có thể là nguyên nhân gây ra tình trạng này.
Theo Phó giáo sư Đào Ngọc Diễn, Chủ tịch chi hội Dinh dưỡng nhi, biếng ăn gây nhiều tác hại cả trước mắt và lâu dài như sụt cân, chậm phát triển thể chất và trí tuệ.... Có vô vàn nguyên nhân gây chán ăn. Ngoài các yếu tố bệnh lý, các vấn đề dinh dưỡng, tâm lý và dùng thuốc cũng liên quan đến tình trạng này.
Nguyên nhân dinh dưỡng: Ép con ăn quá nhiều bữa trong một ngày, gây ức chế sản xuất men tiêu hóa và cảm giác thèm ăn. Đột ngột thay đổi chế độ ăn (từ bú sữa hoàn toàn sang ăn bột, hoặc từ cháo sang cơm) khiến trẻ không kịp thích nghi; cho ăn mãi một thực đơn, khiến ăn thiếu vi chất (vitamin A, B, C, kẽm, đồng, sắt...) cũng khiến trẻ coi bữa ăn như cực hình.
Nguyên nhân tâm lý: Thay đổi môi trường (đổi giờ ăn, nơi ăn, người cho ăn), buồn lo khi phải xa mẹ, cha mẹ cãi nhau... làm trẻ không thiết gì ăn uống. Trẻ được nuông chiều thái quá cũng hay có tính hờn dỗi, hay khóc và bỏ ăn.
Dùng thuốc: Nhiều loại thuốc có thể gây biếng ăn, chẳng hạn như viên sắt. Việc dùng vitamin A, D quá liều cũng gây tình trạng này. Chỉ cần ngừng dùng thuốc là bệnh sẽ hết.
Để trẻ hứng thú hơn với việc ăn uống, ngoài việc thay đổi thực đơn thường xuyên, làm những món bé thích, các bà mẹ còn phải tạo sự thích thú cho bé bằng cách dùng bát đĩa đẹp đẽ, tạo không khí vui vẻ... Trong một số trường hợp, cần dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ.
Các Ông bố , bà mẹ trẻ có thể tham khảo sản phẩm: Liquid Multi Vitamin with Mineral for Children (Liquid for children) là chế phẩm vitamin tổng hợp dạng dung dịch có bổ sung khoáng chất cho trẻ em được các bậc cha mẹ trên toàn thế giới đánh giá cao trong việc nâng cao sức khỏe của trẻ em.
Với khẩu hiệu: “ Bé khỏe mạnh, hết biếng ăn ” Dynamic Health Laboratories™ đã nghiên cứu và sản xuất thành công loại vitamin với hương vị trái cây cho sự phát triển khỏe mạnh dành cho trẻ em. Đặc biệt, loại vitamin này được bổ sung thêm can-xi, cần thiết cho sự phát triển khỏe mạnh của  xương và răng, kẽm giúp tăng sức đề kháng và hỗ trợ tiêu hóa. Hỗn hợp vitamin có bổ sung khoáng chất cho trẻ em tổng hợp các loại vitamin và khoáng chất cần thiết dưới dạng dung dịch dễ hấp thu, hiệu quả cao và an toàn cho dạ dày của bé.
Mọi thông thi về chăm sóc bé biếng ăn các mẹ có thể tham khảo ở web www.biengan.org và www.bekhoebengoan.com.vn để biết thêm thông tin hoặc gọi về số 0904 855 135 , 043 661 7869 để gặp trực tiếp chuyên gia tư vấn.

Trẻ biếng ăn và nguy cơ mắc các bệnh lý mãn tính

Theo các nghiên cứu trên thế giới, có 20 - 45% bé biếng ăn trong độ tuổi từ 1- 5, đây là số liệu vừa được công bố tại Hội thảo giới thiệu quyển sách Chẩn Đoán và Điều Trị Các Rối Loạn Nuôi Ăn ở Trẻ Nhũ Nhi và Trẻ Nhỏ tại TPHCM và Hà nội do Viện bào chế Abbott và Hội Dinh Dưỡng đã phối hợp tổ chức vừa qua. Hội thảo thu hút hơn 1.000 các bác sĩ chuyên khoa Nhi và các chuyên gia dinh dưỡng trong toàn quốc.

Tác giả, Bác sĩ Irene Chatoor (Phó Chủ tịch Khoa Tâm thần học, Giám đốc điều hành Chương trình Sức khoẻ tâm thần dành cho trẻ nhỏ và nhũ nhi thuộc Trung tâm y học quốc gia dành cho trẻ em Mỹ) đã phân loại và phân tích nguyên nhân gây nên việc từ chối ăn ở trẻ (ví dụ như biếng ăn nhũ nhi, ác cảm với thức ăn, rối loạn nuôi ăn do điều chỉnh trạng thái hoặc do bệnh lý nội khoa, rối loạn nuôi ăn sau chấn thương…).

Chính việc chẩn đoán giúp xác định đúng được nguyên nhân gây nên chứng biếng ăn ở trẻ là cơ sở để Bác sĩ Chatoor đưa ra các hình thức điều trị phù hợp. Kết quả  này thu được sau nhiều năm nghiên cứu tâm huyết về đề tài các rối loạn nuôi ăn ở trẻ nhỏ. Sách đã được Giáo sư Chatoor báo cáo tại nhiều hội nghị quốc gia và quốc tế, và dùng để huấn luyện các chuyên gia trong chẩn đoán và điều trị các rối loạn ăn uống.


Có một điều đặc biệt là hầu hết các bậc cha mẹ đều cho rằng thiếu hụt dinh dưỡng hay các dưỡng chất chỉ xảy ra khi trẻ ăn ít. Nhưng, ngay cả việc trẻ chỉ ăn một vài món nhất định
như ăn thịt mà không ăn rau… cũng dẫn tới thiếu hụt dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển của trẻ.

Biếng ăn kéo dài có thể dẫn đến các hệ quả nghiêm trọng về mặt thể chất, chẳng hạn như sút kém trong phát triển và chậm hấp thu dưỡng chất. Ảnh hưởng đến cảm xúc của trẻ cũng là 1 vấn đề đáng quan tâm. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: nếu bố mẹ tỏ ra lo lắng thái quá, và tiến hành các biện pháp cưỡng bức ăn có thể ảnh hưởng tiêu cực đến mối tương tác giữa họ và trẻ nhỏ.

Hầu hết các bậc cha mẹ cho rằng, biếng ăn chỉ ảnh hưởng đến thể trạng của bé như chiều cao và cân nặng nhưng thực tế, hậu quả của nó còn nguy hiểm hơn nhiều. Biếng ăn ban đầu dẫn tới sụt cân nhưng nếu tình trạng này kéo dài sẽ gây tác động nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển cả thể chất lẫn trí tuệ, khiến trẻ đánh mất nhiều cơ hội so với bạn bè cùng trang lứa. Một số nghiên cứu còn cho thấy, biếng ăn có thể dẫn tới những biến chứng trong quá trình phát triển của trẻ, gia tăng các bệnh mãn tính.


Do số lần ăn và số lượng ăn không đủ nên biếng ăn sẽ dẫn tới thiếu hụt chất khiến trẻ bị suy dinh dưỡng, chậm phát triển chiều cao và cân nặng; giảm khả năng hấp thụ chất. Biếng ăn cũng là nguyên nhân khiến trẻ bị giảm sức đề kháng. Vì thế, những bé biếng ăn thường có số ngày bệnh nhiều hơn 29% và có nguy cơ viêm nhiễm đường hô hấp nhiều hơn 45% so với bé bình thường.


Ngay khi thấy con mình có những dấu hiện biếng ăn, cha mẹ cần đưa bé đến các cơ sở y tế để được chuẩn đoán và chữa trị kịp thời nhằm tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra. Nhưng, điều quan trọng nhất trong quá trình chữa trị, cha mẹ cần tăng cường dinh dưỡng cho trẻ bằng việc bổ sung các loại thức ăn đủ chất, đủ lượng với 4 nhóm thực phẩm: đạm, đường, chất béo, vitamin và khoáng chất. Tuy nhiên, vì trẻ đang biếng ăn, khả năng hấp thụ kém nên cha mẹ cần chú trọng bổ sung những thực phẩm giàu dinh dưỡng, chẳng hạn như sữa dành cho trẻ biếng ăn để lắp đầy những “lỗ hổng” về sự thiếu hụt dưỡng chất của bé.


Tác giả Irene Chatoor đã đoạt giải thưởng Irving B. Harris của nhà xuất bản Zero To Three cho quyển sách này vì đã đưa ra những vấn đề mới, quan trọng tạo nên sự khác biệt lâu dài trong cách chăm sóc trẻ nhũ nhi, trẻ nhỏ và gia đình.


Mọi thông thi về chăm sóc bé biếng ăn các mẹ có thể tham khảo ở web www.biengan.orgwww.bekhoebengoan.com.vn để biết thêm thông tin hoặc gọi về số 0904 855 135 , 043 661 7869 để gặp trực tiếp chuyên gia tư vấn.

Trẻ biếng ăn - nỗi lo của nhiều bà mẹ

Trẻ biếng ăn - nỗi lo của nhiều bà mẹ
1. Biếng ăn là gì?
- Biếng ăn là hiện tượng trẻ ăn ít hơn bình thường, ăn thức ăn chọn lọc, chỉ ăn vài loại thức ăn, có trẻ sợ ăn, từ chối hay nôn oẹ khi nhìn thấy thức ăn, bữa ăn kéo quá dài (trên 30’ thậm chí hàng tiếng) do trẻ không chịu nuốt thức ăn hoặc bỏ ăn do nhiều nguyên nhân gây ra.
- Biếng ăn bản thân nó không hẳn là một bệnh mà thường là biểu hiện của nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể do bệnh lý hay tâm lý.
- Có trường hợp trẻ không thực sự biếng ăn mà do cảm giác lo lắng của cha mẹ hoặc người trông nuôi trẻ. Do đó để đánh giá trẻ biếng ăn ta cần dựa vào các chỉ số sau: số lượng thức ăn trẻ ăn vào trong ngày ít hơn nhu cầu theo tuổi, trẻ thường hay táo bón, số lượng phân ít hơn bình thường, phát triển cân nặng của trẻ chậm hơn bình thường hoặc không tăng cân có khi còn giảm cân.
- Rất nghiêm trọng vì dễ gây ra một vòng xoắn: biếng ăn, ăn ít gây ra thiếu nhiều chất dinh dưỡng quan trọng như đạm, dầu mỡ, vitamin, các yếu tố vi lượng... dẫn đến hậu quả bị suy dinh dưỡng hoặc thiếu hụt các vi chất như khô mắt, thiếu máu…và càng làm cho trẻ biếng ăn hơn, suy dinh dưỡng nặng hơn. Trẻ suy dinh dưỡng lại dễ mắc các bệnh nhiễm trùng và trẻ lại càng biếng ăn hơn sau các đợt bệnh đó.
2. Nguyên nhân biếng ăn
2. 1. Biếng ăn liên quan đến bệnh tật của trẻ
- Biếng ăn là triệu chứng thường gặp đối với tất cả trẻ em khi ốm.
- Trẻ mắc các bệnh cấp tính: Viêm phổi, sốt, viêm mũi họng, tiêu chảy, viêm gan, nhiễm khuẩn huyết...
- Trẻ mắc các bệnh mạn tính hoặc bẩm sinh: Tim bẩm sinh, bại não...
- Trẻ mắc các bệnh tổn thương răng miệng: mọc răng, sâu răng, viêm hoặc loét vùng miệng họng...

2. 2. Biếng ăn liên quan đến dinh dưỡng
- Thiếu các chất dinh dưỡng, đặc biệt là thiếu protein, lysin, kẽm, kali...
- Còi xương
- Thức ăn chế biến không hợp khẩu vị của trẻ
- Ép trẻ ăn, áp đặt trẻ làm cho trẻ sợ ăn.
- Trẻ mải chơi, ăn uống không có giờ giấc.
- Khi trẻ ốm, cho trẻ uống thuốc lẫn thức ăn để trẻ nhận biết được gây phản xạ sợ hãi.
- Cho trẻ ăn vặt nhiều, uống nước ngọt trước khi ăn bữa chính
- Trẻ chưa kịp thích nghi với chế độ ăn mới hoặc ép trẻ ăn quá nhiều dẫn đến ức chế bài tiết các men tiêu hoá gây chán ăn.
- Thay đổi giờ ăn, người cho ăn.
- Người lớn xung quanh trẻ có thói quen ăn không mẫu mực làm trẻ bắt chước.

3. Xử trí và phòng ngừa biếng ăn
Biếng ăn do nhiều nguyên nhân gây ra do đó có nhiều cách chữa trị tuỳ theo từng nguyên nhân.
3. 1. Đối với trẻ bệnh:
- Trẻ em mắc bệnh thường rất mệt mỏi, chán ăn, do đó ngoài việc chữa bệnh chúng ta cần quan tâm đến chế độ dinh dưỡng cho trẻ và phải xác định rằng ăn đối với trẻ lúc này rất quan trọng. Vì trẻ bệnh nên cần cho trẻ ăn nhiều bữa, thức ăn cần chế biến dạng lỏng và mềm hơn, dễ tiêu hoá hơn, mùi vị thơm ngon, hợp khẩu vị. Cần phải kiên nhẫn, dỗ dành trẻ tránh ép trẻ ăn làm trẻ sợ hãi. Nếu trẻ ăn ít trong giai đoạn này cũng đừng lo lắng quá, khi lành bệnh trẻ sẽ ăn bù. Điều cần nhất là phải cho trẻ uống đủ nước, nên uống các loại nước quả có đường như nước cam, nước chanh, nước dừa, nước táo, nước xoài. . . hoặc sữa, vì các loại nước này vừa cung cấp năng lượng, vừa cung cấp vitamin và chất khoáng cho trẻ. Cần cho trẻ uống bổ sung vitamin và khoáng chất trong giai đoạn này.
3. 2. Đối với các trường hợp khác:
- Trong năm đầu tiên của trẻ, cần tập cho trẻ ăn đa dạng thức ăn theo hướng dẫn nuôi trẻ.
- Chỉnh khẩu phần ăn của trẻ cân đối, đầy đủ các chất dinh dưỡng theo ô vuông thức ăn và đủ số lượng, chất lượng theo tuổi.
- Kiểm tra xem thức ăn có hợp khẩu vị của trẻ hay không, nếu cần phải đổi thức ăn cho hợp với trẻ. Khi thay đổi thức ăn cho trẻ cần thay đổi từ từ, xen kẽ giữa thức ăn mới và thức ăn cũ mà trẻ yêu thích.
Kiểm tra xem thức ăn có hợp khẩu vị của trẻ hay không, nếu cần phải đổi thức ăn cho hợp với trẻ.
- Nếu trẻ có phản xạ sợ khi nhìn thấy thức ăn, cần phải cắt dần phản xạ đó bằng cách không ép trẻ mà cho trẻ chơi, làm quen dần với dụng cụ chứa thức ăn và thức ăn. Ví dụ, trẻ sợ uống sữa, ta có thể cho trẻ chơi đồ hàng với búp bê cho búp bê uống sữa, trong khi trẻ cho búp bê uống sữa ta cần động viên, khuyến khích bằng cách khen sữa ngon, đùa với trẻ, dần dần cho trẻ uống thử hoặc uống hộ búp bê chút ít hoặc cho trẻ ăn uống cùng với bạn, thi đua cùng bạn. . .
- Có trường hợp trẻ nhìn thấy thìa là sợ, có phản ứng tiêu cực, ta cần cho trẻ chơi với thìa để quen dần. . . .
- Tạo cho trẻ không khí thoải mái, vui vẻ trong bữa ăn. Không nên quá chăm chút để trẻ phải ăn riêng trong khi trẻ có khả năng ăn cùng mâm với gia đình. Không khí vui vẻ, đầm ấm trong bữa cơm gia đình sẽ giúp trẻ ăn ngon miệng hơn.
- Luôn luôn cho trẻ ăn đúng bữa, trong bữa ăn cần tập trung, không nên vừa ăn vừa chơi như xem hoạt hình, chơi điện tử... không nên cho trẻ ăn quà vặt.
- Không nhồi nhét, ép buộc trẻ ăn vì có thể bữa này trẻ ăn ít bữa sau sẽ ăn bù.
- Không cho trẻ uống hoặc ăn đồ ngọt trước bữa ăn vì các thức ăn này tạo cảm giác no giả làm trẻ chán ăn.
- Cần bổ sung vi tamin và chất khoáng cho trẻ nếu nghĩ tới trẻ biếng ăn do thiếu các chất này.
- Khi thay đổi môi trường mới, thay đổi người chăm sóc trẻ ( cho trẻ đi nhà trẻ, mẫu giáo, thay người chăm nuôi...) cần phải tạo cho trẻ tâm lý thoải mái tránh lo lắng, sợ sệt ảnh hưởng tới tâm lý làm trẻ chán ăn.
- Không được để trẻ nhịn đói vì có người cho rằng để trẻ đói quá sẽ phải ăn, nhưng thực tế khi trẻ đói quá sẽ mệt mỏi và lại càng không muốn ăn.

4. Phương pháp xây dựng thực đơn cho trẻ biếng ăn.
4. 1. Cách cho ăn:
- Trẻ nhỏ còn bú mẹ: cho trẻ bú nhiều lần hơn nếu thời gian mỗi lần bú ít hơn bình thường. Nếu trẻ không ngậm bú được, người mẹ cần vắt sữa vào cốc rồi dùng thìa cho trẻ uống.
- Trẻ lớn hơn đã ăn bổ sung: 
+ Nên cho ăn các loại thức ăn mềm, đa dạng, dễ tiêu hoá và chia thành bữa nhỏ.
+  Cần thay đổi thức ăn và cho trẻ ăn những loại thức ăn trẻ tỏ ra thích hơn để khuyến khích trẻ ăn được nhiều, kích thích sự thèm ăn.
+  Cần tạo tâm lý thoải máI, vui thú nhất là tâm lý ganh đua khi ăn sẽ kích thích các tuyến tiêu hoá, hoật động, tăng bàI tiết men tiêu hoá giúp trẻ ăn ngon miệng hơn.
4. 2. Lựa chọn những thực phẩm nên dùng trong khẩu phần trẻ biếng ăn:
Cần chú trọng bồi dưỡng bằng các loại thức ăn giàu dinh dưỡng giúp trẻ nhanh bắt kịp tăng trưởng:
4. 2. 1. Các loại thực phẩm giàu chất đạm (đặc biệt đạm nguồn gốc động vật): sữa mẹ, sữa bò, sữa đậu tương, trứng, thịt, cá
Sữa: Tốt nhất là trẻ được bú sữa mẹ, trong trường hợp không thể:
- Trẻ trên 6 tháng tuổi có thể thay thế một phần sữa bổ sung bằng sữa chua nếu trẻ thích vị sữa chua ngày từ 1 - 2 cốc (không ăn lúc đói). Trẻ < 6 tháng: Sữa chua nên làm từ sữa bột công thức đang nuôi trẻ.
- Hoặc có thể trộn thêm sữa bột vào bột cháo trứng/thịt của trẻ với tỷ lệ thấp (1 - 2 thìa sữa bột/ 200ml dung dịch bột/cháo trứng, thịt).
- Những trẻ > 6 tháng biếng ăn sữa cần tăng cường thêm những chế phẩm của sữa như format mềm rất dầu canxi và năng lượng.
- Nếu có điều kiện kinh tế và mẹ ít hoặc không có sữa nên dùng cho trẻ sữa bột công thức có hàm lượng năng lượng cao để đảm bảo được năng lượng và thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần với số lượng ăn được ít hơn yêu cầu (1Cal/1ml sữa).
- Cho trẻ uống thêm sữa dầu 5%: 100ml sữa bột công thức trộn thêm 1 thìa cà phê dầu thực vật 5ml (loại dầu ăn dùng để ăn sống, trộn xa-lát).
- Trứng: là thức ăn bổ, tốt cho trẻ em, trong trứng có nhiều chất đạm, chất béo, muối khoáng và các loại vitamin. Chất đạm của trứng có đầy đủ các acid amin cần thiết ở tỷ lệ cân đói do đó trẻ dễ hấp thu. Lòng đỏ trứng về giá trị dinh dưỡng có nhiếu chất đạm, chất béo, vitamin và muối khoáng nên lòng đỏ tốt hơn lòng trắng do vậy trẻ dưới 1 tuổi chỉ nên ăn lòng đỏ. Lòng trắng trứng thành phần chủ yếu là đạm nên cho trẻ trên 1 tuổi ăn cả quả trứng.
Thịt : là thực phẩm dinh dưỡng cao (thịt gà - 22, 4% đạm, thịt bò – 21%, thịt nạc thăn – 19% đạm, khi trẻ trên 1 tuổi có thể dùng thịt nạc vai, thịt mông sấn để tăng thêm năng lượng cho trẻ.
-   Cá tôm cua cũng rất nên tăng cường cho trẻ ăn vì chúng chứa nhiều chất đạm (16-20%) lại dễ tiêu hoá hơn đạm thịt. Ngoài ra còn chứa nhiều can xi, phốt pho giúp trẻ không bị còi xương (chú ý trẻ khoảng từ 7 tháng tuổi có thể ăn được các loại thực phẩm này nhưng phải tập ăn sau đạm trứng, thịt và tập dần từ ít đến nhiều).
ở những gia đình không có điều kiện cho trẻ ăn nhiều đạm trứng, thịt thì có thể thay thế bằng đậu tương, đậu xanh, lạc là thực phẩm thực vật cung cấp chất đạm, béo giá thành rẻ. Nhưng trong những trường hợp này khuyến nghị cho nhu cầu protein ăn vào cần được đặt cao hơn một chút (do đạm thực vật tỷ lệ đạm thường thấp hơn và khả năng hấp thu đối với hệ tiêu hoá người cũng thấp hơn so với đạm động vật).
4. 2. 2. Các loại thực phẩm giàu chất béo:
- Chất béo rất nguồn năng lượng quan trọng từ thực phẩm, với cùng một hàm lượng nó cung cấp hơn gấp đôi năng lượng so với chất đạm và chất bột: ngoài ra nó giúp hấp thu các vitamin tan trong dầu (vitamin A, D, E, K rất cần cho phát triển xương, mắt) và cung cấp các acid béo no cần thiết. Do vậy, cần đảm bảo ăn đủ lượng dầu, mỡ cho trẻ để đảm bảo đủ nhu cầu năng lượng theo lứa tuổi của trẻ.
- Nên cho trẻ ăn cả dầu thực vật lẫn mỡ động vật đặc biệt là mỡ gà vì có chứa tới 18% acid béo chưa no rất tốt cho sự hấp thu của trẻ, bên cạnh đó còn có chứa những acid béo no cần cho chuyển hoá của trẻ.

4. 2. 3. Các thực phẩm giàu glucid:
- Gạo, mì: Với lượng lớn trong khẩu phần ăn đóng vai trò quan trọng trong cung cấp năng lượng.
Ngoài ra cần chú ý cho trẻ uống đủ nước, ăn đủ rau, hoa quả tươi để cung cấp đủ các vitamin, chất xơ và các yếu tố vi lượng.

4. 3. Để giúp hệ tiêu hoá trẻ làm việc dễ dàng hơn có thể hỗ trợ bằng
Sử dụng bột mộng có thêm thành phần enzym hoặc dùng nước giá đỗ sống để giúp tăng khả năng tiêu hoá thức ăn và hoá lỏng thức ăn 2 – 3 lần (đặc biệt cần cho trẻ kém khả năng ăn bột/cháo đặc so với lứa tuổi).
4. 4. Những sai lầm các bà mẹ hay mắc phải trong việc thực hiện chế độ ăn của trẻ biếng ăn
- Không tăng cường số bữa ăn cho trẻ mặc dù mỗi bữa trẻ chỉ ăn rất ít hoặc bỏ ăn. Nấu loãng hơn bình thường (cho ít chất đạm, dầu mỡ hơn bình thường) khiến cho trẻ đã ăn ít hơn về lượng lại càng bị thiệt thòi về chất.
- Không cho hoặc cho quá ít dầu mỡ vào bát bột, cháo của trẻ gây thiếu năng lượng khẩu phần cho trẻ.
- Không cho trẻ ăn cá tôm cua vì sợ trẻ tiêu chảy, hoặc khi trẻ có nhiễm khuẩn ho hay tiêu chảy: Chỉ trong những trường hợp cá tôm cua là nguyên nhân gây tiêu chảy như một biểu hiện của bệnh dị ứng ở một số cơ địa dị ứng đồ tanh (tỷ lệ rất thấp).
- Cho trẻ ăn các thực phẩm không nên dùng là: những thực phẩm nguyên hạt, khó tiêu (như ngô...), thấp năng lượng mà chiếm dung lượng lớn như miến, khoai.. Trẻ không táo bón nhưng vẫn trộn quá nhiều đậu xanh, sen, ý dĩ…trong bột xay của trẻ, hoặc cho quá nhiều rau xanh trong bữa bột/cháo gây thấp năng lượng khẩu phần.

Mọi thông thi về chăm sóc bé biếng ăn các mẹ có thể tham khảo ở web www.biengan.orgwww.bekhoebengoan.com.vn để biết thêm thông tin hoặc gọi về số 0904 855 135 , 043 661 7869 để gặp trực tiếp chuyên gia tư vấn.
 

Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2012

Con biếng ăn – không phải chuyện nhỏ

Tại Việt Nam, theo nghiên cứu mới nhất vào tháng 12 năm 2008 cho thấy tỷ lệ bé biếng ăn trong độ tuổi từ từ 1 – 6 là 38%. Quan trọng hơn, có 40% những bé biếng ăn này có dấu hiệu biếng ăn ngay từ khi dưới 3 tuổi.
Theo các nghiên cứu trên thế giới, có 20 - 45% bé biếng ăn trong độ tuổi từ 1-5.

Vậy biểu hiện thế nào là bé biếng ăn? Nguyên nhân và hậu quả của việc biếng ăn đối với trẻ như thế nào? mời bạn tham khảo những nghiên cứu sau đây của Hội nhi khoa việt Nam

A. 5 dấu hiệu cảnh báo bé biếng ăn

1. Thời gian cho mỗi bữa ăn của bé kéo dài trên 30’

2. Số bữa ăn hoặc lượng thức ăn bé ăn được ít hơn so với các bé cùng độ tuổi.

3. Bé chỉ ăn vài thứ thức ăn, không chịu ăn các loại thức ăn khác.

4. Bé thường có biểu hiện quấy nhiễu trong giờ ăn như: la khóc, giả vờ nôn ói, ngậm miệng, ngậm thức ăn, không chịu nuốt…

5. Cân nặng của bé nhẹ hơn so với cân nặng chuẩn.


Chú ý: - Nếu con bạn có 2 trong 5 đấu hiệu trở lên, bé cần được tham vấn, chuẩn đoán và điều trị từ Bác sĩ chuyên khoa.

- Nếu có 1 dấu hiệu, cảnh báo bé có thể biếng ăn.

Con biếng ăn – không phải chuyện nhỏ, Làm mẹ, be bieng an, nguyen nhan be bieng an, be bieng an phai lam the nao, cham soc suc khoe cho be, nuoi con khoe


Cho trẻ biếng ăn ăn là một "cực hình" của nhiều ông bố bà mẹ ( Ảnh minh họa)

B. 7 tình huống bé biếng ăn thường gặp

1. Bé biếng ăn vì đang bị những bệnh thực thể: Do hậu quả của bệnh, bé gặp khó khăn trong ăn uống: khó nuốt, nuốt đau, nuốt sặc, ho, trào ngược, ói, tiêu chảy.

Do vậy,mẹ không nên nôn nóng, mà hãy cho bé ăn từng chút một, có thể giảm một chút khẩu phần ăn đi cũng không sao, khi bé khoẻ hẳn trở lại, mẹ “tẩm bổ” cho bé cũng chưa muộn.

2. Bé bị những cơn đau bụng khi ăn.

Thường xảy ra trên bé khoẻ mạnh dưới 1 tuổi.b Bé khóc không thể dỗ được và làm gián đoạn bữa ăn. Hãy rời bữa ăn cho bé sau đó khoảng 25 – 30’.

3. Bé quá kén chọn thức ăn

Bé không ăn một vài thức ăn đặc biệt. Việc kén chọn này có thể trở thành nỗi lo lắng thực sự nếu bé bị ép ăn các thức ăn này. Mẹ hãy khắc phục ngay “nhược điểm” này cho bé nhé, hãy cho bé thưởng thức tất cả những loại thức ăn mà các trẻ em khác đều ăn được (trừ một vài trường hợp đặc biệt).

4. Bé suy nhược, không hứng thú với chuyện ăn

Bé biếng ăn và có khuynh hướng muốn thu hẹp cảm xúc hoặc trầm cảm. Bé ít nói và ít giao tiếp

5. Bé sợ ăn

Bé biểu lộ sự sợ hãi khi biết sắp phải ăn. Bé có thể khóc khi thấy thức ăn hoặc bình sữa, hoặc không chịu ăn bằng cách khóc, ưỡn người, hoặc ngậm chặt miệng. Với trường hợp này, cha mẹ hãy “cứng rắn” hơn trong mỗi bữa ăn của bé, bé khóc rất có thể bị sặc thức ăn đó. Nếu một lần “ăn vạ” được, bé sẽ tái diễn lại tình trạng này, bạn hãy “ngăn chặn” ngay.

6. Bé quá hiếu động, mải chơi quên ăn

Bé rất năng động, hiếm khi thể hiện là đói; hay bé muốn ăn thì chỉ ăn một hai miếng rồi thôi.

Bé thích chơi hoặc giao tiếp với người khác nhiều hơn ăn.

Bé dễ bị phân tâm khi ăn.

Cha mẹ phải nhanh chóng tìm ra biện pháp hữu hiệu để “khống chế” bé hiếu động trong mỗi bữa ăn.

7. Bé bình thường, nhưng bị cảm nhận sai là biếng ăn

Phụ huynh cho là bé ăn ít nhưng thực ra là phù hợp với kích thước và nhu cầu dinh dưỡng của bé.

Bé nhỏ con do cha mẹ cũng nhỏ con, nhưng bé đã đạt được mức tăng trưởng phù hợp với vóc dáng của bé.

Đây là một “nhầm lẫn” rất hay xảy ra đối với một số các bà mẹ, bạn không nên so sánh: sao con mình nhỏ hơn con cô bạn đồng nghiệp (hàng xóm) trong khi cũng độ tuổi? hãy xem lại gene nhà mình nữa nhé.

Con biếng ăn – không phải chuyện nhỏ, Làm mẹ, be bieng an, nguyen nhan be bieng an, be bieng an phai lam the nao, cham soc suc khoe cho be, nuoi con khoe

C. Hậu quả của biếng ăn

1. Thiếu hụt dưỡng chất

78% phụ huynh có bé biếng ăn đều lo lắng về tình trạng thiếu hụt chất dinh dưỡng.

2. Sụt cân

Bé biếng ăn trong 2 năm đầu đời có nguy cơ nhẹ cân nhiều hơn 3 lần so với bé ăn uống tốt.

3. Rối loạn tăng trưởng


Bé biếng ăn có nguy cơ thua kém từ 6-22% chỉ số cân nặng lý tưởng so với bé ăn uống tốt.

4. Suy giảm hệ miễn dịch

Có số ngày bệnh nhiều hơn 29%, và có nguy cơ viêm nhiễm đường hô hấp trên nhiều hơn 45%.

5. Rối loạn nhận thức, cảm xúc

Không chỉ ảnh hưởng đến khả năng nhận thức, học tập trước mắt và có thể kéo dài đến 5 năm sau.

Bà mẹ nào cũng mong muốn con mình được thông minh, khoẻ mạnh, vì thế mẹ nhớ luôn gần gũi, dành nhiều thời gian cho con để có thể ghi nhận và đánh giá quá trình phát triển của con đúng đắn hơn, từ đó có những điều chỉnh cần thiết, thích hợp trong việc chăm sóc con.

Dấu hiêu nhận biết biếng ăn
  1. Ít thèm ăn
  2. Thờ ơ với thức ăn
  3. Ác cảm với thức ăn
  4. Sự quan tâm quá đáng của cha mẹ
  5. Trẻ đang có bệnh
  6. Sợ ăn
Mọi thông thi về chăm sóc bé biếng ăn các mẹ có thể tham khảo ở web www.biengan.vnwww.bekhoebengoan.vn để biết thêm thông tin hoặc gọi về số 0904 855 135 , 043 661 7869 để gặp trực tiếp chuyên gia tư vấn.

8 "thói quen" khiến trẻ lười ăn

8 "thói quen" khiến trẻ lười ăn


Không ít trẻ “lười” ăn là do thói quen ăn uống không tốt. Những thói quen này lại xuất phát từ sự chăm sóc “lơ là” và không đúng cách của các ông bố bà mẹ.
1. Không chú ý giai đoạn ăn dặm
Khi bước vào giai đoạn ăn dặm, không chỉ nhu cầu dinh dưỡng của bé tăng lên mà đây còn là một cách “tập luyện” giúp phát triển vị giác và khả năng nhai.
Nếu “vô tâm” trong giai đoạn này sẽ làm cho chức năng nhai phát triển chậm chạp. Sau này, trẻ chỉ thích tiếp nhận những thực phẩm “lỏng”, từ chối những thức ăn cần nhai như rau xanh, hoa quả, thịt băm nhỏ....
Lời khuyên của chuyên gia:
Ngoài 4 tháng tuổi, bạn cần dần dần từng bước cho trẻ ăn thêm thức ăn ngoài, nguyên tắc là từ ít đến nhiều, từ lỏng đến đặc, từ mềm đến cứng, từ nhỏ đến to và từ một loại đến nhiều loại.
Từ 6 - 8 tháng tuổi là lúc quan trọng để trẻ học cách nhai và khả năng nhai nuốt thức ăn, ở giai đoạn này bạn cần phải thường xuyên cho trẻ ăn những thực phẩm có độ cứng như: bánh mỳ, bánh quy.
2. Cho trẻ ăn vặt tuỳ ý
Khi bắt đầu biết ăn, những loại kẹo ngọt và socola thường rất hấp dẫn trẻ. Nếu cho trẻ ăn tùy tiện sẽ dẫn tới tình trạng “lửng dạ”, không hào hứng với các bữa chính.
Lời khuyên của chuyên gia:
- Hạn chế cho trẻ ăn vặt tối đa vì nó ảnh hưởng đến khẩu vị và cảm giác thèm ăn của trẻ.
- Chọn những đồ ăn vặt có giá trị dinh dưỡng cao và thích hợp với từng độ tuổi của trẻ như lương khô, hoa quả khô, mứt trái cây, sữa chua...
- Cũng “lập thời gian biểu” cho bữa phụ giống như bữa chính. Lưu ý trước khi ăn cơm và trước khi ngủ không nên cho trẻ ăn vặt.
- Đối với những trẻ không thích ăn cơm thì càng phải kiểm soát các bữa ăn phụ. Nên cất giữ các đồ ăn vặt ở nơi trẻ không chú ý đến.
3. Ăn tốt nhưng ít vận động
Qua tham khảo, bạn biết chế độ dinh dưỡng cho bé rất hợp lý, các món rất ngon miệng nhưng không hiểu sao bé ngày càng lười ăn. Phải chăng bạn đã quên mất một điều là khuyến khích bé vận động?
Lời khuyên của chuyên gia:
Bạn nên thường xuyên cho bé ra ngoài hoạt động, chạy nhảy, không nên để bé cả ngày ở trong nhà “ôm” lấy cái ti vi hay chơi điện tử.
4. Giờ ăn “tùy hứng”
Một số bà mẹ cho rằng nếu trẻ không muốn ăn thì mặc kệ trẻ, đợi trẻ đói rồi tức khắc sẽ đòi ăn nhưng càng chờ càng sốt ruột. Thực tế, nếu để tình trạng kéo dài  sẽ gây ra rối loạn khả năng hấp thụ của trẻ.
Một số bà mẹ lại quá bận rộn, bản thân không ăn uống đúng giờ nên trẻ cũng đương nhiên theo luôn nếp đó.
Lời khuyên của chuyên gia:
Là tấm gương để con soi vào nên hãy gắng ăn ngày 3 bữa vào một giờ nhất định. Trước bữa ăn khoảng 5 - 10 phút nên nhắc nhở trẻ chuẩn bị đến giờ ăn.
Nếu trẻ khoảng 5 - 6 tuổi thì có thể để cho trẻ tham gia chuẩn bị bữa ăn như nhặt rau, sắp chén bát. Như vậy trẻ sẽ có một quá trình chuẩn bị tâm lý, dịch vị được tiết ra, ăn sẽ "vào" hơn.
Vào bữa, các thành viên trong gia đình nên tạo không khí ăn cơm đầm ấm vui vẻ. Nếu trẻ nhất thời không muốn ăn, bạn cần nhắc nhở trẻ: “Nếu bây giờ không ăn thì phải chờ đến bữa tối mới được ăn đấy” hoặc “Con không ăn thì sẽ bị mọi người ăn hết phần đó”.
5. Dung túng thói quen ăn uống không tốt
Trong mắt của trẻ, mọi hoạt động đều là “trò chơi”, ăn cơm cũng không ngoại lệ.
Một số trẻ có thói quen vừa ăn vừa chơi, có trẻ còn thích vừa ăn vừa xem ti vi, nếu không cho xem thì không ăn. Những thói quen không tốt này đều làm cho trẻ phân tán sự tập trung khi ăn, từ đó ảnh hưởng đến cảm giác ăn uống.
Lời khuyên của chuyên gia:
Vào giờ ăn, bạn nên thu hết tất cả mọi đồ chơi của trẻ, tắt ti vi để cho trẻ tập trung vào bữa ăn. Khi trẻ ngoan ngoãn ăn cơm và ăn  ngon miệng thì nên kịp thời cổ vũ bé.
Trong thời gian ăn cơm, nếu trẻ có ngó ngoáy hay chạy vòng quanh rồi quay lại bàn ăn ngay thì bạn cũng không nên ngăn cấm. Tuyệt đối không chạy theo sau để cố đút cơm cho trẻ.
6. Chỉ ăn món “khoái khẩu”
Bố mẹ là tấm gương vì thế nếu trẻ nói “con không ăn” thì bạn cũng đừng vội bực bội.
Mỗi bà mẹ đều có món khoái khẩu và những món "nghĩ đã sợ" và rất có thể bé cũng đang học bạn điều đó.
Lời khuyên của chuyên gia:
Bạn không nên tỏ thái độ thích ăn món này ghét ăn món kia trước mặt trẻ. Bạn nên cho trẻ thấy mỗi loại thực phẩm đều có hương vị rất ngon và đều rất có lợi cho cơ thể.
7.  Cho trẻ ăn riêng
Một số bà mẹ muốn trẻ ăn được nhiều nên có thói quen cố ý cho trẻ ăn trước hoặc sau bữa ăn với gia đình. Có thể các ông bố bà mẹ không biết, trẻ ăn cơm cũng cần có một không khí đầm ấm. Nếu ăn cùng với cả gia đình thì trẻ sẽ ăn ngon hơn, nhiều hơn so với khi ăn một mình.
Lời khuyên của chuyên gia:
Hãy sắp xếp cho trẻ một chỗ ngồi cố định trên bàn ăn, động viên trẻ cùng ăn cơm với cả gia đình. Nếu trẻ chưa thể tự xúc thì bạn có thể vừa ăn vừa đút cho trẻ. Sau khi trẻ nắm vững được “kỹ năng” ăn uống thì bạn nên để cho trẻ tự lập và tự giác có thói quen ăn uống.
8. Không chú ý tạo dựng không khí ăn uống
Bữa cơm nên kết thúc ở trong không khí vui vẻ nhưng rất nhiều bà mẹ không chú ý đến vấn đề này. Khi trẻ thể hiện không muốn ăn, những người mẹ nóng vội sẽ thể hiện tính không kiên nhẫn, không đánh thì sẽ mắng, ép cho trẻ ăn được thì mới thôi. Ở trong môi trường như thế thì ai còn có “hứng thú” để ăn nữa?
Lời khuyên của chuyên gia:
Ép buộc trẻ ăn cơm không phải là giải pháp tốt nhất. Nếu trẻ thực sự không muốn ăn thì cũng không nên quá ép.
Đợi 30 phút sau hãy thử bón cho trẻ ăn lại. Đói là sự “bắt ép” tốt nhất với trẻ. Nếu sau khi bỏ 1 bữa mà trẻ vẫn chưa có cảm giác đói thì nhất định là đường tiêu hoá của trẻ có vấn đề. Lúc này bạn nên đưa trẻ đến bệnh viện khám, không nên tuỳ tiện cho trẻ bổ sung vitamin hay thực phẩm dinh dưỡng

Mọi thông thi về chăm sóc bé biếng ăn các mẹ có thể tham khảo ở web www.biengan.org www.bekhoebengoan.com.vn để biết thêm thông tin hoặc gọi về số 0904 855 135 , 043 661 7869 để gặp trực tiếp chuyên gia tư vấn.